Không tính nợ của DNNN, Ngân hàng Nhà nước vào nợ công là hợp lý

Sáng ngày 16/6, kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV tiếp tục làm việc với phần bàn thảo về Luật nợ công sửa đổi. Sau phần bàn thảo, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng có 15 phút giải trình hấp thu quan điểm của đại biểu.

Bộ trưởng cho biết, Luật sửa đổi dựa trên ý thức của Luật là bảo đảm đề nghị của luật pháp tương tác và quy định về nợ công, còn khuôn khổ nợ công là điều chỉnh để thích hợp với quốc tế.

Liên quan Ngân hàng Chính sách, Bộ trưởng cho biết, chính phủ bảo lãnh sản xuất trái phiếu thực hành nhiệm vụ theo nhiệm vụ của Chính phủ nên thuộc nợ công.

Về khuôn khổ nợ công, theo thông lệ quốc tế, nợ công bao gồm bổn phận nợ trực tiếp của Chính phủ (bao gồm của địa phương, trung ương, Chính phủ là chủ thể đi vay và chịu bổn phận trả nợ bằng ngân sách), nợ đề phòng (không phải do Chính phủ đi vay nhưng Chính phủ cam kết trả nợ thay nếu chủ thể mất tài năng trả nợ toàn phần hoặc một phần, tức bảo lãnh, cho vay lại).

Về nợ của công ty Nhà nước, theo Bộ trưởng khuôn khổ nợ công đã tính các khoản DNNN vay lại vốn vay của nước ngoài và các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh.

Còn các khoản vay tự vay tự trả, DNNN là công ty TNHH một thành viên hoạt động đồng đẳng với các công ty khác theo luật Doanh nghiệp và quản lý theo luật quản lý kinh doanh vốn đầu tư công ty và quốc gia.

Theo chỉ dẫn WB chỉ tính nợ tự vay tự trả vào nợ công nếu thỏa mãn 3 điều kiện đồng thời: Chính phủ chiếm hữu 50% vốn tại công ty; Hoạt động thu chi của công ty được tính trong dự toán thu chi hàng năm; Chính phủ cam kết trả nợ thay nếu chủ thể đi vay chẳng thể trả được nợ.

Ngoài ra, trên quả đât bây giờ, theo bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, khảo sát hơn 40 nước thì hồ hết là không tính nợ của DNNN vào nợ công, chỉ có 3 nước.

Với các khoản nợ của NHNN vay để thực hành chế độ tiền tệ thì không tính vào nợ công. Vì NHNN thực hành vai trò của Ngân hàng trung ương thực thi chế độ tiền tệ bảo đảm giá trị đồng bạc, cán cân tính sổ, trong đó có việc sản xuất các công cụ nợ có kỳ hạn dưới 12 04 tuần. Theo Bộ trưởng, bản tính của nghiệp vụ này là sử dụng công cụ nghiệp vụ để điều hòa hoạt động mua bán mở theo quy định.

Theo thông lệ quốc tế, đa số các nước NHTW là nhà băng chủ quyền, Thống đốc không phải thành viên của Chính phủ, còn ở vn thì NHNN là doanh nghiệp thuộc Chính phủ, còn thực hành công dụng quản lý quốc gia về tiền tệ…Tuy nhiên với vai trò quản lý Nhà nước thì NHNN không có công dụng huy động vốn cho chính phủ nên hoạt động huy động vốn của NHNN không thuộc nợ công.

Với các doanh nghiệp sự nghiệp công lập như bệnh viện bến xe thì có tính vào nợ công. Theo quy định hiện hành, các khoản tự vay tự trả của doanh nghiệp sự nghiệp công lập thì ứng dụng như với các khoản nợ của công ty thường nhật.

Về chỉ tiêu bình an nợ công, Bộ sẽ hấp thu quan điểm của UBTVQH và các đại biểu, tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh lại theo hướng Quốc hội sẽ quyết định trong chiến lược 5 năm.

Về thẩm quyền quyết định tiêu pha nợ công, căn cứ vào khoản 2 điều 7 của luật đơn vị Chính phủ thì Chính phủ quyết định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chế độ, chương trình dự án khác theo thẩm quyền. Nội dung chiến lược này mang tính định hướng, biện pháp mang thuộc tính định hướng, điều hành của Chính phủ chứ không phải là pháp lệnh như các chỉ tiêu của Quốc hội. Việc xây đắp phải theo quy chủ trương của Đảng, của Quốc hội.

Về kế hoạch trả nợ 5 năm thì cũng trình Quốc hội, thẩm quyền của Quốc hội quyết định.

Về nhiệm vụ quyền hạn quản lý nợ công, theo Bộ trưởng, đại biểu nói giao cho Chính phủ quyết định nhưng về nợ công tương tác tới hai ngành thì đã đưa vào 2 luật chuyên ngành là Luật của NHNN (Luật TCTD – pv), và Luật về nợ công của Bộ Kế hoạch đầu tư. Luật NHNN năm 2010 tới nay cũng phải tổng kết kiểm tra để sửa đổi một số điều…Còn như tương tác kế hoạch đầu tư, quy định hiện hành đại biểu nói làm tốt, nhưng như phiên chất vấn ngày 15/6 với Bộ trưởng KHĐT cho thấy đại biểu rất lo lắng chất vấn nhiều về đầu tư công và điều đó khiến cho Chính phủ cũng rất trằn trọc.

Song về thông lệ quốc tế là họ chỉ có một đầu mối quản lý, điều này nếu làm được ngay thì tốt, còn nếu bất cập mà cứ sửa thì dở. Quan điểm của Bộ Tài chính là Bộ trình 1 đầu mối, còn một đầu mối là thuộc về ai quản lý là do Quốc hội quyết định, do Bộ kế hoạch đầu tư cũng được, NHNN cũng được, Văn phòng Chính phủ cũng được nhưng các nước thì thông lệ là Bộ Tài chính quản lý.

Về bảo lãnh nợ nước ngoài và cho vay lại, Bộ xin hấp thu quan điểm của đại biểu và trên ý thức là siết chặt các khoản cho vay này.

Nợ công chuyển dần sang NHTM bảo lãnh